BA SÀM

Cơ quan ngôn luận của THÔNG TẤN XÃ VỈA HÈ

12.026. Những người lính VNCH vẫn mãi là Mùa Xuân

Posted by admin on 18th March 2017

Paulus Lê Sơn

18-3-2017

Ảnh: Paulus Lê Sơn

Tôi bị thúc bách rất ghê gớm bằng những hình ảnh cuộc sống thực tế của các TPB VNCH, vì thế tôi quyết định đẩy mình đi đến với các gia đình Thương Phế Binh Việt Nam Cộng Hòa (TPB VNCH), tôi như thấy mình như một người lính ra chiến trận. Mùa Xuân đến cho lòng người phơi phới.

Tôi xác nhận rằng, chẳng bao giờ là đủ khi đến với những con người đang lê dần về bên kia thế giới. Họ đã một thời oai phong, tài tử lãng mạn trên chiến trường, trong cuộc sống hằng ngày. Thời thế lại đẩy đưa họ chìm vào những nỗi đau không kể siết và không ai thấu hiểu nỗi. Read the rest of this entry »

Tags: ,
Posted in Chính trị, Dân chủ/Nhân Quyền, Đảng CSVN | Comments Off on 12.026. Những người lính VNCH vẫn mãi là Mùa Xuân

11.219. Nixon đã cản trở hòa đàm ở Việt Nam như thế nào?

Posted by admin on 4th January 2017

BBC

3-1-2017

Richard Nixon. Ảnh: BBC

Richard Nixon. Ảnh: BBC

Tư liệu mới phát hiện cho hay Tổng thống Richard Nixon có thể đã tìm cách cản trở hòa đàm với hai phe ở Việt Nam năm 1968 vì quan ngại bầu cử.

John A. Farrell, tác giả cuốn “Richard Nixon: The Life” sắp xuất bản, nói Nixon đã yêu cầu các trợ lý ngăn cản tiến trình hòa đàm mà ông cho là có thể giúp đối thủ của ông, Phó Tổng thống Hubert H. Humphrey, chiến thắng trong cuộc bầu cử năm 1968.

Trong bài viết trên báo The New York Times hôm 31/12/2016 với tựa đề ‘Sự phản bội Việt Nam của Nixon’ (Nixon’s Vietnam Treachery), Farrell công bố một số chi tiết mới tìm thấy trong các thư từ của H. R. Haldeman, trợ lý thân cận của Nixon.

Việc kìm hãm hòa đàm này có thể đã khiến Hoa Kỳ dấn thêm bốn năm nữa vào cuộc chiến Việt Nam. Read the rest of this entry »

Tags: ,
Posted in Chiến tranh VN, Chính trị, Đảng CSVN | Comments Off on 11.219. Nixon đã cản trở hòa đàm ở Việt Nam như thế nào?

2138. VIỆT NAM NÊN SỚM ĐƯA VẤN ĐỀ BIỂN ĐÔNG RA TÒA ÁN QUỐC TẾ

Posted by Admin on 24th March 2014

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM (Tài liệu tham khảo đặc biệt)

Thứ Tư, ngày 19/03/2014

(Đài RFI 15/3 )

Ngày 14/3/2014, đúng 26 năm ngày Trung Quốc ngang nhiên đưa quân đánh chiếm đảo Gạc Ma thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam, sát hại 64 lính hải quân Việt Nam. Năm 2014 cũng là đúng 40 năm ngày Trung Quốc dùng vũ lực chiếm quần đảo Hoàng Sa từ tay quân đội Việt Nam Cộng hòa, khiến 74 người lính miền Nam thiệt mạng. Trước một người láng giềng khổng lồ, lại hung hăng, đầy tham vọng như thế, Việt Nam phải đối phó như thế nào? Theo nhận xét của ông Thái Văn cầu, chuyên gia về không gian ở Mỹ, không thể kéo dài tình trạng hiện nay mà cần đưa vấn đề ra trước các tòa án quốc tế càng sớm càng tốt.

Read the rest of this entry »

Tags: , , ,
Posted in Biển Đông/TS-HS, Đảng/Nhà nước, Quan hệ Việt-Trung | Comments Off on 2138. VIỆT NAM NÊN SỚM ĐƯA VẤN ĐỀ BIỂN ĐÔNG RA TÒA ÁN QUỐC TẾ

2134. Cái nhìn tổng quan về Việt Nam từ năm 1945 đến nay

Posted by Admin on 23rd March 2014

Phan Thành Đạt

Việt Nam là quốc gia nằm ở Đông Nam Á, có diện tích 330.000 km². Với dân số 90 triệu người, Việt Nam là nước đông dân trên thế giới. Nhờ có một nền văn hiến lâu đời cùng với lịch sử hào hùng khoảng 3000 năm, đất nước này có nhiều di sản văn hóa, kiến trúc được xây dựng từ nhiều thế kỷ. Việt Nam cũng là mảnh đất sinh sống của 54 dân tộc anh em, trong đó dân tộc Kinh là dân tộc đa số, chiếm 87 % dân số toàn quốc. Lịch sử của Việt Nam gắn liền với các cuộc đấu tranh chống quân xâm lược phương bắc để bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ và giữ vững nền độc lập. Lịch sử thời kì hiện đại của Việt Nam cũng gắn liền với các cuộc chiến tranh. Trong thế kỉ XX, Việt Nam là nơi diễn ra nhiều cuộc chiến tranh: Chiến tranh Đông Dương, chiến tranh với Mỹ, chiến tranh biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc, hay cuộc chiến giữa quân tình nguyện Việt Nam và Khmer đỏ nhằm giải phóng Campuchia.

Read the rest of this entry »

Tags: , , ,
Posted in Dân chủ/Nhân Quyền, Đảng/Nhà nước, Lịch sử, Mạng xã hội, Quan hệ quốc tế, Quan hệ Việt - Mỹ, Quan hệ Việt-Trung | Comments Off on 2134. Cái nhìn tổng quan về Việt Nam từ năm 1945 đến nay

2279. Trên 15.000 ngàn chữ ký vì Hoàng Sa gởi đến Liên Hiệp Quốc

Posted by Admin on 26th January 2014

RFI Tiếng Việt

Thứ bảy 25 Tháng Giêng 2014

Thụy My

1Chỉ trong vòng một tuần lễ, đã có 15.588 người từ nhiều nơi trên thế giới ký tên vào lá thư gởi cho Liên Hiệp Quốc nhân dịp kỷ niệm 40 năm Trung Quốc dùng vũ lực xâm chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Lá thư được gởi đi trưa 24/01/2014 từ Paris, nhằm nhắc nhở trước thế giới « Hoàng Sa là của Việt Nam », và kêu gọi đưa vấn đề ra trước Tòa án Công lý Quốc tế.

Từ sáng kiến của Quỹ Nghiên cứu Biển Đông và nhóm Biển Đông tại Pháp đã cùng soạn thảo lá thư và vận động thu thập chữ ký. Lá thư nhắc lại sự kiện lịch sử bi hùng ngày 19 và 20/01/1974, quân Trung Quốc đã tấn công và chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa sau trận hải chiến ác liệt với Hải quân Việt Nam Cộng Hòa. Đồng thời cũng khẳng định tầm quan trọng của việc thượng tôn luật pháp quốc tế, tố cáo hành động xâm lược của Trung Quốc đã vi phạm nguyên tắc giải quyết các tranh chấp quốc tế bằng biện pháp hòa bình.

Read the rest of this entry »

Tags: , , ,
Posted in Biển Đông/TS-HS, Đảng/Nhà nước | Comments Off on 2279. Trên 15.000 ngàn chữ ký vì Hoàng Sa gởi đến Liên Hiệp Quốc

2254. Tự do cho dân, hòa giải dân tộc và dân chủ cho đất nước

Posted by Admin on 21st January 2014

Nguyễn Trung Chính

20-01-2014

1Sáng 11/5/2013, Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI bế mạc, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đọc diễn văn tổng kết trong đó ông tuyên bố:  “Đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị phải đồng bộ với đổi mới thể chế kinh tế.

Nghe “Đổi mới“, mừng quá! Tưởng đã đến lúc Đảng chấp nhận đổi mới tư duy chính trị để đồng bộ với đổi mới kinh tế.

Read the rest of this entry »

Tags: , , , , , , ,
Posted in Chính trị, Dân chủ/Nhân Quyền, Đảng/Nhà nước, Hòa giải hòa hợp dân tộc, Lịch sử | Comments Off on 2254. Tự do cho dân, hòa giải dân tộc và dân chủ cho đất nước

2251. BIỂN ĐÔNG VÀ QUAN HỆ VỚI TRUNG QUỐC: ĐIỂM NÓNG ĐỐI NGOẠI CỦA VIỆT NAM TRONG NĂM 2014

Posted by Admin on 20th January 2014

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM (Tài liệu tham khảo đặc biệt)

Thứ Sáu, ngày 17/01/2014

(Đài RFI 13/1)

Sau một năm tương đối yên tĩnh, ngay trong những ngày đầu năm 2014 này, Biển Đông lại có dấu hiệu dậy sóng trở lại, với quyết định của Chính phủ Trung Quốc được gọi nôm na là “cấm tàu cá nước ngoài”, do tỉnh Hải Nam ban hành từ cuối năm 2013, nhưng bắt đầu có hiệu lực kê từ 1/1/2014. Trong tình hình đó, việc xử lí ổn thỏa quan hệ với Trung Quốc trong tương quan với hồ sơ Biển Đông đã được cho là thách thức đối ngoại gay go nhất cho Chính phủ Việt Nam trong năm 2014 này.

Read the rest of this entry »

Tags: , , ,
Posted in Biển Đông/TS-HS, Quan hệ ASEAN-Trung Quốc, Quan hệ quốc tế | Comments Off on 2251. BIỂN ĐÔNG VÀ QUAN HỆ VỚI TRUNG QUỐC: ĐIỂM NÓNG ĐỐI NGOẠI CỦA VIỆT NAM TRONG NĂM 2014

2245. Tầm nhìn Hoàng – Trường Sa

Posted by Admin on 19th January 2014

TS Trần Nhơn

Nhốt công lý, cầm tù sự thật,

Toàn trị không thể nào thông minh.

Chỉ có ngu dốt và độc ác,

Khúc quanh lịch sử nửa hành tinh.

Read the rest of this entry »

Tags: , ,
Posted in Biển Đông/TS-HS, Đảng/Nhà nước | Comments Off on 2245. Tầm nhìn Hoàng – Trường Sa

1973. Phản biện lại bài viết ĐÔI ĐIỀU VỚI TÁC GIẢ BÀI “VIẾT TRÊN GIƯỜNG BỊNH”

Posted by News on 20th August 2013

Trung Nghĩa

 Phản hồi cho ông/bà Trọng Đức, tác giả của bài viết được đăng trên báo Quân Đội Nhân Dân điện tử ra ngày chủ nhật 18/08/2013 trong mục chính luận với thông cáo “Làm thất bại chiến lược diễn biến hòa bình”. *

 Tôi đã nhiều năm không đọc báo QĐND. Hôm nay thông qua diễn đàn mạng tôi được biết đến bài báo của tác giả Trọng Đức (có lẽ là một bút danh) mà khi đọc bài viết tôi không khỏi bức xúc. Tôi cũng tự đặt ra một bút danh cho mình để phản hồi cho bài viết này vì bản tính tôi là nhút nhát, sợ bị “nổi tiếng”. Tác giả bàn về những luận chứng nhằm phủ nhận người khác nhưng có vẻ như tác giả quá yếu kém khi đưa ra một ví dụ lệch lạc, không hiểu những luận cứ chủ thuyết của Marx, giải thích một cách lèo lái, gượng ép để phủ nhận những ý kiến của ông Lê Hiếu Đằng.

Read the rest of this entry »

Tags: , , , , , , ,
Posted in Chính trị, Dân chủ/Nhân Quyền, Đảng/Nhà nước | Comments Off on 1973. Phản biện lại bài viết ĐÔI ĐIỀU VỚI TÁC GIẢ BÀI “VIẾT TRÊN GIƯỜNG BỊNH”

840. Trung Quốc bất tín trong quan hệ với Việt Nam

Posted by News on 27th March 2012

Bài báo này xuất hiện cùng một ngày, giờ, phút trên tất cả các trang web/blog mang tên các vị lãnh đạo đảng CS và chính quyền Việt Nam (Trương Tấn Sang, Nguyễn Tấn DũngPhùng Quang ThanhTrần Đại Quang, Phạm Bình Minh, …). Sự ra đời, tồn tại của các trang web này, có kèm theo nhiều blog tương ứng, được thiết kế, cập nhật thông tin khá bài bản, tuy gần như giống nhau, là một dấu hỏi lớn. BS đã đưa địa chỉ các trang này bên cột phải.

Tin rằng, cộng đồng quốc tế sẽ tự tìm cho mình câu trả lời thông qua hành xử kiểu “vừa ăn cướp, vừa la làng” của Trung Quốc ở Biển Đông thời gian gần đây.

Trung Quốc bất tín trong quan hệ với Việt Nam

Bạch Dương

Ngày: 26/03/2012,  9:45 am

Ngang nhiên bắt giữ, cản trở ngư dân Việt Nam đang hoạt động nghề cá tại vùng biển thuộc quần đảo Hoàng Sa nước ta là những hành động không hề mới của Trung Quốc. Chỉ có điều nó được các cơ quan chức năng của Trung Quốc lặp đi lặp lại với tần suất ngày một nhiều hơn. Điều đó không chỉ chứng tỏ sự coi thường luật pháp quốc tế, sự vô nhân đạo mà quan trọng hơn đó là sự bất tín của họ trong quan hệ Việt – Trung.

Bắt tàu cá Việt Nam bất chấp luật pháp và đạo lý

Read the rest of this entry »

Tags: , , , , , , ,
Posted in Biển Đông/TS-HS, Quan hệ Việt-Trung | Comments Off on 840. Trung Quốc bất tín trong quan hệ với Việt Nam

NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUAN HỆ VIỆT – MỸ

Posted by News on 29th September 2010

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM

Tài liệu tham khảo đặc biệt

Thứ tư, ngày 29/09/2010

NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUAN HỆ VIỆT – MỸ

(Oasinhtơn 23/9)

 

Ngày 15/9, tại cuộc hội thảo về quan hệ Mỹ – Việt tổ chức tại thủ đo Oasinhtơn, giáo sư Nguyễn Mạnh Hùng thuộc khoa Chính trị học của Đại học George Mason đã có bài phát biểu về quan hệ Mỹ – Việt. Dưới đây là phần trích dịch (*) nói về các nhân tố ảnh hưởng đến quan hệ Mỹ – Việt trong tương lai:

Nhìn về phía trước, tương lai của quan hệ Mỹ – Việt phụ thuộc vào một số nhân tố: nhân tố Trung Quốc, tầm quan trọng chiến lược của Việt Nam trong cách nhìn nhận của Mỹ, khả năng và ý đồ của Mỹ trong cách nhìn nhận của Việt Nam, nhân tố giá trị, và quan hệ giữa Việt Nam với người Mỹ gốc Việt.

Nhân tố Trung Quốc

Vì những lý do chiến lược, Trung Quốc không muốn chứng kiến một quan hệ liên minh gần gũi giữa Việt Nam và Mỹ hình thành ngay sát biên giới phía Nam của mình. Cả Mỹ và Việt Nam đều không muốn gây hấn với Trung Quốc một cách không cần thiết. Là siêu cường đang ngự trị, Mỹ có nhiều lựa chọn hơn Việt Nam. Nếu quan hệ tốt với Trung Quốc là điều mong muốn của Mỹ, thì với Việt Nam đó là điều cần thiết. Là một nước nhỏ nằm cạnh một người láng giềng khổng lồ với một lịch sử quan hệ phức tạp, trong các quan hệ với Mỹ, Việt Nam phải thực hiện những lựa chọn khó khăn giữa một bên là sự cần thiết phải có mối quan hệ láng giềng tốt với Trung Quốc, một bên là sự cấp thiết phải khẳng định quyền chủ quyền trong việc theo đuổi các mối quan hệ ngoại giao với các nước khác nhằm bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của mình.

Nếu sự cần thiết phải chú ý đến mối quan hệ nhạy cảm với Trung Quốc có thể trở thành vật cản hoặc làm chậm lại tiến trình xây dựng lại quan hệ giữa Việt Nam và Mỹ, đặc biệt trong lĩnh vực quốc phòng/an ninh, thì những đòi hỏi quá đáng và thái độ hiếu chiến của Trung Quốc ở Biển Đông trong vài năm gần đây đã dẫn đến sự hội tụ các lợi ích an ninh giữa Việt Nam và Mỹ. Cả hai nước đều lo ngại về chương trình hiện đại hóa quân sự của Trung Quốc làm tăng khả năng áp đặt ý chí của Trung Quốc trong các tranh chấp ở Biển Đông.

Các xung đột về lãnh thổ cả trên biển lẫn trên đất liện giữa Việt Nam và Trung Quốc đã diễn ra nhiều năm nay, nhưng đường lưỡi bò do Trung Quốc vẽ ra để tuyên bố chủ quyền với 80% diện tích của Biển Đông đã chồng lên cả vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam. Bên cạnh đó, lệnh cấm đánh bắt cá đơn phương của Trung Quốc tại các vùng biển tranh chấp và việc nước này bắt giữ, ngược đãi ngư dân Việt Nam đã buộc Việt Nam phải phản ứng. Chính phủ Việt Nam đã cố gắng quốc tế hóa vấn đề, mua vũ khí mới để tăng cường khả năng quốc phòng, và phát động một chiến dịch củng cố quyết tâm của quân đội để bảo vệ “từng tấc đất, tấc biển của quốc gia”.

Đối với Mỹ, những tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc là quá đáng và không tuân theo luật quốc tế. Mỹ “không chia sẻ và không thể hiểu cách diễn giải của Trung Quốc về luật biển”. Mỹ phản đối việc Trung Quốc đe dọa các công ty Mỹ hoạt động trên vùng biển này. Nếu Trung Quốc có khả năng thực thi các tuyên bố chủ quyền của mình, Biển Đông sẽ trở thành ao nhà của Trung Quốc, ngăn cản tự do hàng hải. Những tuyên bố chủ quyền này là không thể chấp nhận đối với một cường quốc biển toàn cầu như Mỹ.

Thái độ của Trung Quốc, vì thế, đã dẫn đến một sự hội tụ những lợi ích chiến lược giữa Mỹ và Việt Nam và sự cải thiện trong hợp tác quân sự giữa hai nước. Những gì diễn ra tiếp theo sẽ tùy thuộc vào việc mỗi nước đánh giá như thế nào về khả năng và ý định của nước kia.

Việt Nam nhìn từ góc độ chiến lược của Mỹ

Sau Chiến tranh Việt Nam, và đặc biệt sau khi Việt Nam đưa quân vào Campuchia, Mỹ coi Việt Nam là một công cụ cho chủ nghĩa bành trướng của Liên Xô ở Đông Nam Á. Mỹ đứng cùng phía với Trung Quốc và ASEAN chống lại Việt Nam ở Campuchia. Tuy nhiên, khi Việt Nam cải cách kinh tế, thay đổi chính sách đối ngoại, và tăng cường hội nhập vào ASEAN, và đặc biệt từ khi bình thướng hóa quan hệ hai nước, cách nhìn của Mỹ với Việt Nam đã thay đổi.

Trong tam giác Mỹ – Việt – Trung, Mỹ cảm thấy yên tâm hơn rất nhiều với Việt Nam. Dù Mỹ cần sự hợp tác của Trung Quốc để đối phó với một số vấn đề quan trọng toàn cầu, như chấm dứt các chương trình hạt nhân của Bắc Triều Tiên và Iran, chống hiện tượng nóng lên toàn cầu, vv, Mỹ vẫn coi Trung Quốc là một đối thủ tiềm tàng. Trong khi Trung Quốc có thể trở thành một mối đe dọa đối với Mỹ. Không chỉ không có xung đột chiến lược giữa Mỹ với Việt Nam, mà trong cách nhìn của Mỹ, Việt Nam là một lực lượng quan trọng đóng góp vào trật tự an ninh đang nổi lên ở châu Á – Thái Bình Dương. Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ phụ trách Kinh tế, Năng lượng và các vấn đề Văn hóa đã coi việc củng cố mối quan hệ với Việt Nam là “một trụ cột trong sự hiện diện của chúng ta ở khu vực (Thái Bình Dương) và sự tham gia của chúng ta trong các thể chế đa phương ở châu Á – Thái Bình Dương”. Quan điểm tích cực này về Việt Nam đã khuyến khích Mỹ thúc đẩy các mối quan hệ gần gũi hơn giữa hai nước. Cho đến nay, mong muốn tăng cường quan hệ với Việt Nam từ phía Mỹ biến đổi tỉ lệ nghịch với những hành động hiếu chiến của Trung Quốc và tỉ lệ thuận với quyết tâm và khả năng của Việt Nam trong việc đóng một vai trò độc lập ở châu Á.

Những thù địch trong quá khứ xuất phát từ hai cuộc chiến tranh – Chiến tranh Việt Nam và Chiến tranh Campuchia – và nhận thức của Việt Nam về những nguyên nhân sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản ở châu Âu đã khiến các nhà lãnh đạo của Việt Nam nghi ngờ rằng Mỹ muốn lật đổ các chế độ cộng sản còn lại, trong đó có Việt Nam. Các nghị quyết của Đảng, phân tích trên báo chí và các tuyên bố chính thức vẫn tiếp tục nhắc đến nguy cơ “diễn biến hòa bình” và những âm mưu “lợi dụng tự do dân chủ” của “các thế lực thù địch” nhằm lật đổ chế độ.

Chính phủ Việt Nam coi việc Mỹ thúc đẩy dân chủ và sức ép đối với vấn đề nhân quyền như một công cụ làm tổn hại đến chế độ cộng sản. Lo ngại này có thể giải thích được nhưng không nhất thiết phản ánh lợi ích chiến lược của Mỹ. Mỹ muốn thấy một Việt Nam vững mạnh, ổn định và độc lập. Một sự thay đổi chính quyền bằng bạo lực ở Việt Nam không mang lại lợi ích chiến lược nào cho Mỹ, vì nó sẽ tạo khoảng trống mà rất có thể các lực lượng thù địch với Mỹ sẽ lấp vào.

Khi Việt Nam tiến gần hơn với Mỹ, Việt Nam cũng phải lo ngại về khả năng sẽ trở thành con tốt thí trên bàn cờ chính trị của các nước lớn, giống như trường hợp của Bắc Việt Nam năm 1945 và Nam Việt Nam năm 1973. Khi nào sự thiếu tin tưởng và thiếu chắc chắn này về cam kết của Mỹ vẫn còn, quan hệ Mỹ – Việt sẽ không đạt được đến mức độ như quan hệ giữa Mỹ với nhiều đối tác châu Á khác.

Nhân tố giá trị

Giữa các quốc gia có chế độ chính trị khác nhau hoặc đối lập nhau vẫn có thể có sự hợp tác cùng có lợi, thậm chí là liên minh tạm thời, nhưng để có một mối quan hệ hợp tác ổn định, lâu dài là điều không thể. Vì sự khác nhau giữa các hệ thống giá trị giữa Mỹ và Việt Nam, vấn đề nhân quyền đã tác động và sẽ tiếp tục ảnh hưởng đến đường hướng trong mối quan hệ Mỹ – Việt. Nó có thể kéo hai quốc gia lại gần nhau, cũng có thể tạo ra xung đột.

Vấn đề nhân quyền chiếm một vị trí quan trọng trong quan hệ Mỹ – Việt vì nhiều lý do. Thứ nhất, nó là niềm tin cốt lõi của người Mỹ. Thứ hai, tầm quan trọng về kinh tế và chiến lược của Việt Nam đối với Mỹ chưa đến mức có thể lấn át những quan tâm về nhân quyền. Thượng nghị sĩ McCain, một cựu chiến binh Việt Nam và là người ủng hộ mạnh mẽ quan hệ Mỹ – Việt, hồi tháng Bảy vừa qua đã nói rằng “quan hệ đối tác hiện nay của chúng ta trên các mối quan tâm chung cuối cùng sẽ trở thành một quan hệ đối tác trên các giá trị chung”. Thứ ba, dân chủ và sự tôn trọng nhân quyền là xu hướng nổi trội trong thời đại của chúng ta; bản thân Chính phủ Việt Nam đã cam kết xây dựng một “nước giàu mạnh và xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Không có sự khác biệt nào, về nguyên tắc, trong ước nguyện cao nhất của nhân dân hai nước, chỉ có sự khác biệt trong cách diễn giải. Cuối cùng, mối quan tâm về nhân quyền được thể chế hóa trong chính trị Mỹ. Quốc hội đã lập ra Ủy ban về Tự do Tôn giáo Quốc tế Mỹ. Bộ Ngoại giao có chức Trợ lý Ngoại trưởng về Dân chủ, Nhân quyền và Lao động. Báo cáo hàng năm về nhân quyền của Bộ Ngoại giao Mỹ là trách nhiệm do Quốc hội giao. Đại sứ quán Mỹ tại Việt Nam không có lựa chọn nào khác ngoài việc cung cấp phần của họ trong báo cáo hàng năm và phải làm việc hết sức với chính quyền Việt Nam để thể hiện sự tiến bộ trong vấn đề.

Sự cải thiện hơn nữa trong quan hệ Mỹ – Việt phụ thuộc vào vấn đề nhân quyền được giải quyết như thế nào từ cả hai phía, và quan trọng hơn là sáng kiến của chính Việt Nam về cải cách chính trị.

Quan hệ giữa Việt Nam với người Mỹ gốc Việt

Người Mỹ gốc Việt có thể ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đối với quan hệ Mỹ – Việt. Tuy nhiên, nó phụ thuộc hoàn toàn vào mối quan hệ giữa cộng đồng người Việt tại Mỹ với Chính phủ Việt Nam.

Việt Nam hướng đến cộng đồng người Việt tại Mỹ như một nguồn tài chính (tiền gửi về nước và du lịch), tiềm năng về chuyên gia, và muốn họ trở thành một lực lượng vận động hành lang cho Việt Nam ở Mỹ.

Sự nổi lên của một thế hệ mới người Việt, cả ở trong nước lẫn nước ngoài, không mang theo những hệ quả của chiến tranh, sự kết nối và giao lưu giữa người Mỹ gốc Việt và người Việt Nam ở trong nước, cũng như những người đang học tập tại Mỹ (trong đó có các quan chức chính phủ) sẽ mang lại sự hiểu biết lẫn nhau tốt hơn, thu hẹp khoảng cách về nhận thức giữa họ, và thúc đẩy sự hợp tác giữa Mỹ với Việt Nam. Có thể cho rằng sự chỉ trích mang tính xây dựng đối với những vi phạm về nhân quyền có thể có một tác động tích cực. Nhân quyền phản ánh các giá trị và mối quan tâm của nước Mỹ, đưa chính quyền và nhân dân hai nước lại gần nhau trong các giá trị chính trị; và sự tương thích về chính trị là một cơ sở vững chắc cho mối quan hệ ổn định và hữu nghị.

Trong những năm gần đây, Chính phủ Việt Nam đã có những nỗ lực để vươn tới người Việt Nam ở nước ngoài, đặc biệt là ỏ Mỹ, thông qua chính sách “hòa hợp dân tộc”. Nghị quyết 36 của Bộ Chính trị ban hành ngày 26/3/2004 coi người Việt Nam ở nước ngoài là “bộ phận không tách rời và là một nguồn lực của cộng đồng dân tộc Việt Nam, là nhân tố quan trọng góp phần tăng cường quan hệ hợp tác, hữu nghị giữa nước ta với các nước”. Đã có những bước đi được thực hiện để người Việt Nam ở nước ngoài dễ dàng hơn trong việc mua nhà ở Việt Nam, về thăm đất nước, hoặc làm việc ở đó. Đó là những bước đi nhỏ phản ánh những đặc quyền mà chính phủ đưa ra cho người Việt Nam ở nước ngoài, nhưng đã không giải quyết được nhu cầu hòa hợp thực sự dựa trên sự tôn trọng lẫn nhau.

Trên thực tế, mỗi gia đình ở Nam Việt Nam có ít nhất một thành viên trong quân đội và/hoặc trong chính quyền. Nhiều gia đình có thành viên ở cả hai phía trong cuộc xung đột. Không ai muốn cha mẹ mình bị coi là “phản bội” đất nước. Thượng nghị sĩ Webb trong bài phát biểu tại cuộc Hội thảo kỷ niệm 15 năm quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Mỹ tổ chức tại Hà Nội tháng Bảy vừa qua đã nhắc nhở cử tọa rằng một điều quan trọng là thừa nhận rằng “có những quan điểm mạnh mẽ đã trở thành xung đột rất nghiêm trọng với những quan điểm mạnh mẽ khác, cả ở đây, tại Việt Nam, lẫn ở nước ngoài” và “chúng ta phải tôn trọng sự thật rằng có rất nhiều quan điểm đa dạng mà những người có thiện chí tin tưởng một cách chân thành”.

Trong 5 năm qua đã xuất hiện những lời kêu gọi, chủ yếu từ các cựu quan chức trong chính phủ, rằng phải hiểu và tôn trọng những người bại trận.

Năm 2005, cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã kêu gọi phải có “thái độ mới”, nhắc nhở mọi người rằng những vết thương của chiến tranh là “của toàn dân tộc”, “lịch sử đã khiến nhiều gia đình ở miền Nam có người thân yêu ở cả hai phía của cuộc xung đột”, và cho rằng đất nước nên “thắp một nén nhang” để cầu nguyện cho linh hồn của tất cả những người lính – Bắc và Nam – vì họ đều là “con của Mẹ Việt Nam”.

Năm năm sau, 2010, một vị tướng của miền Bắc, Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, cựu đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc, ủy viên Ban chấp hành trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, trong một cuộc phỏng vấn với báo Người Việt (30/8/2010) tuyên bố rằng “Máu của những chiến sĩ này (những người lính Nam Việt Nam trong trận chiến hải quân chống lại Trung Quốc ở Hoàng Sa năm 1974) đổ ra là đổ cho tổ quốc, phải tuyên dương, phải xem họ ngang với tất cả liệt sĩ của Quân độ Nhân dân Việt Nam”.

Chính phủ Việt Nam đã có hai quyết định đầy khích lệ. Một là ủng hộ và tạo điều kiện cho dự án “Returning War Casualties” (đưa những người chết trong chiến tranh trở về) của MIA/POW (quân nhân mất tích khi làm nhiệm vụ/tù nhân chiến tranh) muốn tìm kiếm và chôn cất lại hài cốt của những người đã chết trong các trại cải tạo. Hai là dời các đơn vị quân đội khỏi nghĩa trang Bình An, trước đây là nơi chôn cất những người lính của Lực lượng Vũ trang Việt Nam Cộng hòa, giống như Nghĩa trang Arlington của Mỹ. Người Việt Nam ở hải ngoại và ở Mỹ đang theo dõi xem nghĩa trang này sẽ di dời lấy chỗ kinh doanh, giữ nguyên hiện trạng, hay được bảo tồn thành một di tích lịch sử để mở đầu cho tiến trình hàn gắn. Hai vấn đề trên, nếu được xử lý một cách đúng đắn, sẽ giúp xây dựng nền tảng cho quan hệ tốt hơn giữa Việt Nam và người Mỹ gốc Việt.

Hòa hợp dân tộc giữa những người Việt Nam là một trách nhiệm lịch sử và có thể có tác động chính trị to lớn. Nó có thể biến những người chống đối trong cộng đồng người Việt Nam hải ngoại thành các nhóm vận động hành lang đầy thế lực phục vụ cho Việt Nam ở hầu khắp các quốc gia trên thế giới, và tất nhiên sẽ củng cố vững chắc mối quan hệ giữa Mỹ với Việt Nam. **

* BS chú thích:

Bài được lược bỏ phần đầu. Mời xem toàn văn trên báo Người Việt.

Phần sau có nhiều câu, đoạn được dịch khác với bản dịch trên báo Người Việt. Ví vụ:Mỹ có nhiều lựa chọn hơn Việt Nam” (TTXVN), “Hoa Kỳ có nhiều chọn lựa hơn là chỉ một mình Việt Nam” (NV).  – “Bên cạnh đó, lệnh cấm đánh bắt cá đơn phương của Trung Quốc tại các vùng biển tranh chấp và việc nước này bắt giữ, ngược đãi ngư dân Việt Nam đã buộc Việt Nam phải phản ứng (TTXVN);  Thêm vào đó, việc Trung Quốc đơn phương cấm các hoạt động đánh cá đã buộc Việt Nam phải đáp ứng (NV).  – “và đặc biệt sau khi Việt Nam đưa quân vào Campuchia” (TTXVN);   “và nhất là sau cuộc xâm lược Căm Bốt của Việt Nam” (NV).  – Hai đoạn này khác hẳn nhau: “Có thể cho rằng sự chỉ trích mang tính xây dựng đối với những vi phạm về nhân quyền có thể có một tác động tích cực. Nhân quyền phản ánh các giá trị và mối quan tâm của nước Mỹ, đưa chính quyền và nhân dân hai nước lại gần nhau trong các giá trị chính trị; và sự tương thích về chính trị là một cơ sở vững chắc cho mối quan hệ ổn định và hữu nghị” (TTXVN); “Nhìn vấn đề này từ một góc độ khác, người ta có thể lập luận rằng những chỉ trích mang tính xây dựng về những vụ vi phạm nhân quyền có thể dẫn tới hậu quả tốt đẹp. Thứ nhất, những người ủng hộ nhân quyền phản ảnh giá trị và quyền lợi của Hoa Kỳ. Thứ nhì, việc cải thiện nhân quyền không những là điều mong muốn của dân chúng Việt Nam mà còn có khả năng đưa hai quốc gia và hai dân tộc lại gần với các giá trị chính trị; và sự tương hợp về chính trị là nền tảng vững chắc cho mối quan hệ bền vững và thân thiện.” (NV);   -” và “chúng ta phải tôn trọng sự thật rằng có rất nhiều quan điểm đa dạng mà những người có thiện chí tin tưởng một cách chân thành” (TTXVN);  “và ông gợi ý rằng “chúng ta phải tôn trọng sự thể rằng nhiều ý kiến khác biệt nhau đã do nhiều nhân vật đứng đắn của cả hai bên đưa ra” (NV).

Đoạn bị  TTXVN lược bỏ: + “Thứ ba, nhiều người Mỹ từng chiến đấu trong cuộc Chiến Tranh Việt Nam mong muốn thấy có tiến bộ trong nhân quyền và dân chủ tại Việt Nam đặng những hy sinh của họ cũng như của các đồng đội đã ngã xuống không phải là vô ích.” + Nhưng các nỗ lực có tổ chức của các nhóm người Mỹ gốc Việt nhằm nêu bật các vi phạm nhân quyền và đẩy mạnh dân chủ tại Việt Nam đã tạo cho Việt Nam một bộ mặt xấu xa và tạo căng thẳng trong mối quan hệ song phương giữa Hoa Kỳ và Việt Nam”.

 

Bài đã đăng trên trang Ba Sàm 2010, nhưng bị tin tặc xâm nhập, xóa mất, nay đăng lại, nên không còn các phản hồi ban đầu của độc giả.

Tags: , , , , , , , , , , , , , , , ,
Posted in Biển Đông/TS-HS, Dân chủ/Nhân Quyền, Đảng/Nhà nước, Quan hệ Mỹ-Trung, Quan hệ Việt - Mỹ, Quan hệ Việt-Trung | Comments Off on NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUAN HỆ VIỆT – MỸ

Ngày kỷ niệm Khó chịu ở Việt Nam

Posted by News on 11th September 2008

ASIA TIMES

Ngày kỷ niệm Khó chịu ở Việt Nam

Duy Hoàng

Ngày 10-9-2008

 

Các thế hệ trẻ em đi học trường Pháp đã trưởng thành trong học tập không bao giờ quên xứ Alsace-Lorraine, vùng lãnh thổ mà Pháp đã mất vào tay Prussia [một vương quốc thuộc Đức trước đây] trong cuộc chiến tranh năm 1871. Các sinh viên Trung Quốc đã lao vào một hoạt động phản kháng năm 1919 khi Hiệp ước Versailles giao Bán đảo Sán Đầu – sinh quán của Khổng Tử – cho Nhật Bản.

Đối với nhiều người Việt Nam ngày nay, các quần đảo Hoàng Sa (Paracel) và Trường Sa (Spratly) bên ngoài bờ biển phía đông Việt Nam cũng gợi lên những cảm xúc về xứ sở quê hương mình giống như vậy. Những dãy đảo này, mà quyền sở hữu thuộc về nước nào hiện đang bị tranh cãi bởi nhiều quốc gia song phần lớn được Trung Quốc và Việt Nam chiếm đóng, đã từng được nhiều triều đại Việt Nam từ những thế kỷ trước yêu sách về chủ quyền.

Hai quần đảo này đứng án ngữ những hải lộ chiến lược trên Biển Đông và được cho rằng chứa đựng dự trữ dầu lửa và khí đốt đáng kể. Mới đây, sự khôi phục lời khẳng định quyền tối cao của Trung Quốc đối với toàn bộ Biển Đông – vùng biển giữa Việt Nam và Philippines và trải dài xuống tới Indonesia – đã làm bùng lên những tình cảm dân tộc chủ nghĩa ở Việt Nam. Cùng lúc, phản ứng lặng câm của Hà Nội đối với thái độ của Trung Quốc đã kích động sự giận dữ của dân chúng trong nước và khắp các cộng đồng người gốc Việt ở hải ngoại.

Trong khi tất cả người Việt Nam, bao gồm cả những người cộng sản đương quyền, đều ý thức rất sắc bén về những thế kỷ bị thống trị bởi người láng giềng lớn phía bắc của mình, thì chế độ Hà Nội lại tỏ ra mâu thuẫn trong cách đối phó với Bắc Kinh. Họ tin cậy vào Trung Quốc để có được sự ủng hộ về chính trị, sao chép mô hình mở cửa về kinh tế cùng với hệ thống chính trị khép kín của Trung Quốc. Họ tỏ ra miễn cưỡng khi phải công khai phê phán Trung Quốc, bởi lo sợ rằng phê phán Trung Quốc là kết án chính mình.

Đối với một đảng đi tới nắm quyền lực nhân danh nền độc lập dân tộc, tính hợp pháp có được của Đảng Cộng sản Việt Nam có thể biến mất nếu như người dân nhận ra cái cách đảng này đặt quyền lợi của hệ thống cai trị của mình cao hơn lợi ích quốc gia. Trong một nền văn hóa mà lịch sử dân tộc mang ý nghĩa to lớn, có ba ngày kỷ niệm quan trọng đang đến gần gây lo ngại cho các nhà lãnh đạo Việt Nam.

Sự nhượng bộ nhục nhã

Năm mươi năm trước, nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã đưa ra một tuyên bố về cơ bản khẳng định toàn bộ Biển Đông như là một hồ nước nằm trong lãnh thổ của mình. Trong vòng nhiều ngày sau đó, ngày 14-9-1958, thủ tướng Bắc Việt Nam Phạm Văn Đồng đã gửi một công hàm ngoại giao tới người đồng nhiệm của mình là Chu Ân Lai, công nhận tuyên bố chủ quyền nêu trên của Trung Quốc. Động cơ thúc đẩy của những người cộng sản ở Hà Nội thực đơn giản: họ cần sự trợ giúp về quân sự của Trung Quốc trong cuộc chiến chống lại Nam Việt Nam được Hoa Kỳ hậu thuẫn.

Tuy nhiên, những người cộng sản ở Hà Nội đã trao gửi những thứ không thuộc về mình. Hiệp định Paris 1954 đã chia cắt Việt Nam tại vĩ tuyến 17. Cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đều nằm phía dưới vĩ tuyến 17 và về mặt pháp lý thuộc về Nam Việt Nam. Đến nay, Bắc Kinh đang sử dụng bức công hàm của ông Phạm Văn Đồng để để hổ trợ lời tuyên bố chủ quyền của họ về các quần đảo này. Tài liệu đó, thứ chưa từng có bất cứ sức thuyết phục về pháp lý nào, đang được liệt kê lên trang web của Bộ Ngoại giao Trung Quốc dưới một mục với tên gọi “Sự công nhận của quốc tế về chủ quyền của Trung Quốc đối với Quần đảo Nansha [Trường Sa]”.

Khi dịp kỷ niệm 50 năm sự nhượng bộ [qua bức công hàm] của ông Phạm Văn Đồng đến gần, các nhà hoạt động ở Việt Nam đang đòi hỏi nghiêm khắc rằng chính phủ Hà Nội hãy chính thức thu hồi bức công hàm ngoại giao đó. Đây là một cuộc thảo luận công khai mà nhà chức trách không muốn có và sự kiện này tiếp tục cho thấy phản ứng của chính quyền sẽ ra sao. Nếu như ban lãnh đạo phới lờ, hay thậm chí tệ hơn, ngăn chặn những đòi hỏi này, thì hành động đó sẽ thừa nhận một cái nhìn ngày càng rõ hơn rằng những người cộng sản ở Hà Nội đã đồng lõa trong việc chuyển nhượng chủ quyền những hòn đảo của Việt Nam cho Trung Quốc.

Vào tháng Mười một năm 2007, Trung Quốc đã chính thức hóa hành động thôn tín của mình đối với Hoàng Sa và Trường Sa bằng cách hợp nhất hai quần đảo vào một đơn vị hành chính mới được hình thành (được biết dưới cái tên “Tam Sa”) thuộc tỉnh Hải Nam. Khi quyết định này được biết đến, sinh viên và giới blogger Việt Nam đã tổ chức những hành động phản kháng chưa từng thấy bên ngoài các cơ quan ngoại giao Trung Quốc tại Hà Nội và Sài Gòn. Những phản kháng này kéo dài hai tuần liên tiếp vào những ngày cuối tuần cho tới khi công an Việt Nam quấy rối và bắt giam nhiều người trong số những nhà tổ chức cuộc phản kháng.

Vào dịp kỷ niệm một năm sự sát nhập Tam Sa đang đến gần, giới trẻ Việt Nam có thể một lần nữa lại xuống đường. Lần này, liệu chính phủ có ngăn chặn các blog và bỏ tù những người dân vì hành động khẳng định chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam hay không? Vào năm ngoái, Hà Nội đã trở thành một thành viên của Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc. Nhiều người đang đặt câu hỏi rằng liệu Hà Nội sẽ sử dụng cái chức vị cao quý của mình để chủ trương cho một cuộc dàn xếp quốc tế trên Biển Đông đang tranh chấp hay không.

Gần tới ngày kết thúc cuộc Chiến tranh Việt Nam, Trung Quốc đã lợi dụng tình trạng đang yếu đi của quân đội Nam Việt Nam bằng hành động tấn công Quần đảo Hoàng Sa, nơi có quân đội [Nam] Việt Nam trú đóng. Trong trận hải chiến ngày 19 tháng Một năm 1974, và các cuộc đổ bộ của Trung Quốc sau đó, 53 lính hải quân và binh sĩ Việt Nam [Cộng hòa] đã hy sinh tính mạng của mình để bảo vệ quần đảo. Chính quyền Sài Gòn đã kháng nghị phản đối hành động vô cớ xâm lược đó, trong khi chính quyền Hà Nội lại biểu thị sự ủng hộ đối với những hành động của Trung Quốc chống lại những gì mà họ gọi là “những kẻ bù nhìn của Mỹ.”

Giờ đây, đã gần 35 năm qua đi, trong lúc lối tuyên truyền xưa cũ đã biến mất dần, sự đánh giá công bằng của lịch sử đã để lộ ra một sự thật không thuận lợi cho ban lãnh đạo cộng sản ở Hà Nội. Trong những ngày gian khó nhất của cuộc nội chiến, phía miền Nam mà những người cộng sản luôn lăng mạ, đã dũng cảm chiến đấu để tiếp tục giữ gìn phần lãnh thổ của tổ quốc. Điều này tương phản với phía miền Bắc thiển cận luôn chào đón nồng nhiệt hành động xâm lược của Trung Quốc đối với Hoàng Sa để đạt được những mục tiêu của cuộc chiến sắp tới hồi kết thúc.

Theo phong tục Việt Nam, ông bà tổ tiên và những anh hùng dân tộc đều được tôn kính. Gần 35 năm sau Trận chiến trên Quần đảo Hoàng Sa, giới blogger và các sử gia tại Việt Nam đang bắt đầu xem xét lại sự kiện lịch sử này. Điều này tạo ra một vấn nạn khác cho hệ thống cai trị: liệu nhà nước Việt Nam sẽ cản trở các công dân công khai bàn luận về quá khứ hay không? Các nhà chức trách sẽ phản ứng ra sao đối với những nghi lễ tưởng nhớ 53 binh sĩ và hải quân Việt Nam [Cộng hòa] đã hy sinh trong trận chiến đó?

Hai mối xung đột, một giải pháp

Hiện có hai mối xung đột thực sự đang có nguy cơ nổi lên từ những quần đảo tranh chấp trên Biển Đông. Xung đột thứ nhất là giữa Trung Quốc, Việt Nam và các quốc gia khác với quyền lợi dựa vào kết quả sau cùng.

Tình trạng đói nguồn nhiên liệu và khao khát được nổi trội trên phạm vi toàn cầu của Trung Quốc đã dẫn tới một thái hộ hiếu chiến ngày càng gia tăng, đe doạ sự tự do đi lại trên biển, các quyền đánh bắt hải sản và các hợp đồng thăm dò năng lượng. Vấn đề về Biển Đông cần được nâng lên tầm mức khu vực và tòa án quốc tế, nơi mà một cách giải quyết hòa bình khả dĩ chấp nhận đối với tất cả các bên có thể đạt được.

Xung đột thứ hai là giữa những người cầm quyền ở Việt Nam với dân chúng. Bởi vì quyền lợi và sự quan tâm của hai bên chủ yếu là không tương hợp, cách mà những người cầm quyền tại Hà Nội và nhiều người dân Việt Nam muốn phát biểu về vấn đề này là khác nhau. Cũng như trên bình diện quốc tế, ở đó cần một sự thảo luận tự do và cởi mở bên trong lãnh thổViệt Nam liên quan tới lịch sử của Hoàng Sa và Trường Sa và về các cách thức giải quyết những đòi hỏi chủ quyền của Việt Nam.

Vấn đề về các quần đảo này có thể gây nên bùng nổ, và ban lãnh đạo Hà Nội biết điều đó. Trong một cuộc họp vào mùa hè này, Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản đã thảo luận về những bất mãn đang gia tăng trong giới sinh viên học sinh và trí thức cùng với cách thức mà chính phủ đang phản ứng đối với hành động gây hấn của Trung Quốc, nhưng dường như vấn đề đã được đặt ra mà không có biện pháp cứu vãn.

Giải pháp đối với nan đề Biển Đông phải là sự đối thoại cởi mở, thành thực trên bình diện quốc tế và trong phạm vi Việt Nam. Chế độ ở Hà Nội phải sẵn lòng nâng vấn đề lên tới tòa án quốc tế và dân chúng Việt Nam phải có được quyền phát biểu ý kiến một cách tự do về quan điểm của họ trong vấn đề quan trọng liên quan tới quốc tế này.

Sự thất bại của Đảng Cộng sản trong việc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ Việt Nam và thái độ khăng khăng của họ trong việc đàn áp các biểu hiện của chủ nghĩa yêu nước đã đánh thức mối nghi ngờ về chính tính hợp pháp trong quyền cai trị của đảng này.

Duy Hoàng là một nhà lãnh đạo của Việt Tân tại Hoa Kỳ, một chính đảng ủng hộ dân chủ, không được phép hoạt động tại Việt Nam. 

 

Hiệu đính: Blogger Trần Hoàng

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2008

——————-

 

ASIA TIMES

Uncomfortable anniversary in Vietnam 

By Duy Hoang

Sep 10, 2008

Generations of French school children grew up learning never to forget Alsace-Lorraine, territory that France lost to Prussia in the war of 1871. Chinese students launched a protest movement in 1919 when the Treaty of Versailles gave the Shandong Peninsula – the birthplace of Confucius – to Japan.

To many Vietnamese today, the Hoang Sa (Paracel) and Truong Sa (Spratly) archipelagos off the eastern coast of Vietnam evoke the same sort of homeland emotions. These island chains, whose ownership is contested by multiple countries but occupied mainly by China and Vietnam, have been claimed by Vietnamese imperial dynasties going back centuries.

They straddle strategic sea lanes in the South China Sea and are believed to contain significant oil and gas deposits. Recently, China’s renewed assertion of sovereignty over the entire South China Sea – waters between Vietnam and the Philippines and stretching down to Indonesia – have enflamed nationalist passions in Vietnam. At the same time, Hanoi’s muted reaction to Beijing’s stance stirred popular outrage at home and across the diaspora.

While all Vietnamese, including the ruling communists, are keenly aware of centuries of domination by their big northern neighbor, the Hanoi regime is conflicted in how to deal with Beijing. It relies on China for political support, photocopying Beijing’s model of open economics and closed politics. It is reluctant to openly criticize China, fearing that to criticize China is to condemn itself.

For a party that came to power in the name of national independence, the perceived legitimacy of the Vietnamese Communist Party might evaporate if people realize how it has put the interest of the regime before that of the nation. In a culture where history matters, there are three important approaching anniversaries that worry Vietnam’s communist leaders.

Disgraceful concession

Fifty years ago, the People’s Republic of China issued a declaration essentially claiming the entire South China Sea as an inland lake. Within days, on September 14, 1958, prime minister Pham Van Dong of North Vietnam sent a diplomatic note to his counterpart Chou En-lai, acknowledging China’s claim. The motivation of the Hanoi communists was simple: they needed China’s military support in the war against the US-backed South Vietnam.

However, the Hanoi communists had given away what wasn’t theirs to give. The Geneva Accords of 1954 divided Vietnam at the 17th parallel. Both the Paracels and Spratly are located below the 17th parallel and legally belonged to South Vietnam. To this day, Beijing uses the Pham Van Dong note to support its claims over the islands. This document, which never had any legal force, is listed on the website of China’s Foreign Ministry under a section titled “International recognition of China’s sovereignty over the Nansha [Spratly] Islands”.

As the 50-year anniversary of the Pham Van Dong concession approaches, activists in Vietnam are demanding that the Hanoi government officially recall the diplomatic note. This is a public discussion that authorities would rather not have and it remains to be seen what the official reaction will be. If the leadership ignores or, even worse, represses these demands, it will confirm a growing view that the Hanoi communists were complicit in ceding Vietnamese islands to China.

In November 2007, China formalized its annexation of the Paracels and Spratlys by incorporating the two archipelagoes into a newly formed administrative unit (known as “Tam Sa”) governed out of Hainan province. When this decision became known, Vietnamese students and bloggers organized unprecedented protests outside Chinese diplomatic offices in Hanoi and Saigon. These protests lasted two consecutive weekends until Vietnamese security police harassed and detained many of the organizers.

As the one-year anniversary of the Tam Sa incorporation arrives, Vietnamese youth may again take to the streets. This time, will the government shut down blogs and imprison people for asserting Vietnam’s territorial sovereignty? In the last year, Hanoi has become a member of the United Nations Security Council. Many are questioning whether Hanoi will use its lofty post to advocate for an international settlement of the South China Sea dispute.

Toward the end of the Vietnam War, China took advantage of South Vietnam’s weakening military position by attacking the Paracel Islands, which were garrisoned by Vietnamese troops. In the naval battle of January 19, 1974, and subsequent Chinese amphibious landings, 53 Vietnamese sailors and soldiers lost their lives defending the islands. The Saigon government protested the unprovoked invasion, while the Hanoi government expressed support for China’s moves against what it called “American puppets”.

Now, almost 35 years later, as the old propaganda fades away, a fair assessment of history reveals an inconvenient truth for the Hanoi communist leadership. During the most difficult days of the country’s civil war, the Southern side which the communists always vilified, valiantly fought to hold on to part of the fatherland. This is in contrast to the short-sighted Northern side which welcomed the Chinese occupation of the Paracels for its

near-term war aims.

By Vietnamese custom, ancestors and national heroes are venerated. Some 35 years after the Battle of the Paracel Islands, bloggers and historians in Vietnam are beginning to revisit the history. This creates another dilemma for the regime: will it prevent citizens from publicly discussing the past? How will authorities react to remembrance ceremonies for the 53 Vietnamese sailors and soldiers who died in battle?

Two conflicts, one solution

There are really two brewing conflicts arising from the disputed islands in the South China Sea. The first conflict is between China, Vietnam and other countries with a stake in the outcome.

Beijing’s thirst for energy supplies and desire for global prominence has led to an increasingly aggressive stance, threatening freedom of navigation, fishing rights and contracts for energy exploration. The issue of the South China Sea needs to be elevated to regional and international fora where a peaceful resolution acceptable to all parties can be achieved.

The second conflict is between Vietnam’s rulers and its people. Because the interests of the two are not necessarily aligned, how Hanoi and many Vietnamese people want to address the issue differs. As on the international level, there needs to be a free and open discussion within Vietnam regarding the history of the Paracels and Spratlys and on ways to resolve Vietnam’s claims.

The matter of these islands can be explosive, and the Hanoi leadership knows it. During a meeting this summer, the Communist Party’s Central Committee discussed the growing dissatisfaction among students and intellectuals with how the government was responding to Chinese aggressiveness, and came up with no remedies.

The solution to the South China Sea problem is open, frank dialogue on the international level and within Vietnam. The Hanoi regime must be willing to raise the matter in international fora and the Vietnamese people must have the right to freely express their views on this issue of national importance.

The failure of the Communist Party to defend Vietnam’s territorial sovereignty and its insistence on repressing domestic expressions of patriotism call into question the very legitimacy of its rule.

Duy Hoang is a US-based leader of Viet Tan, a pro-democracy, unsanctioned political party active in Vietnam.

(Copyright 2008 Asia Times Online (Holdings) Ltd. All rights reserved. Please contact us about sales, syndication and republishing.)

 

Bài đã đăng trên trang Ba Sàm 2008, nhưng bị tin tặc xâm nhập, xóa mất, nay đăng lại, nên không còn các phản hồi ban đầu của độc giả.

Tags: , ,
Posted in Biển Đông/TS-HS, Chiến tranh VN, Chính trị, Đảng/Nhà nước, Quan hệ Việt-Trung | Comments Off on Ngày kỷ niệm Khó chịu ở Việt Nam

Ba mươi năm Gọi tên gì Cho cuộc chiến ?(3)

Posted by News on 26th April 2008

Ba mươi năm Gọi tên gìCho cuộc chiến ?

(tiếp theo và hết)

talawas

Tranh luận về tên gọi Cuộc chiến 1955-1975

2

III.

Lê Xuân Khoa
Xuyên tạc sự thật hay phục hồi sự thật?

Ngày 15-03-2005, nhật báo Nhân Dân có đăng bài “Gọi tên cuộc chiến hay xuyên tạc sự thật?” của ông Nguyễn Hoà nhận xét về một bài viết của tôi đã được BBC đưa lên trang web của đài ngày 15-2-2005 dưới tựa đề “Ba mươi năm gọi tên gì cho cuộc chiến?”. [1] Khác với một số ít người bảo thủ cực đoan ở trong nước cũng như ở bên Mỹ đã chỉ trích tôi bằng những lời lẽ có tính chất thoá mạ, chụp mũ, ông Nguyễn Hoà đã giữ được thái độ nghiêm chỉnh, lịch sự, mặc dù cũng có lúc ông đã chê trách tôi là “ngô nghê” hay ”khôi hài”. Tôi cám ơn ông Hòa về thái độ nghiêm chỉnh cần thiết trong khi tranh luận vì lẽ phải và sự thật, để cuối cùng nếu hai bên không đồng ý được với nhau thì vẫn có thể tôn trọng sự khác biệt, đúng với tinh thần thảo luận dân chủ “we agree to disagree” (đồng ý là chúng ta bất đồng ý với nhau).

Ông Nguyễn Hoà nhìn nhận tôi có thiện ý “nhắc lại quá khứ không phải nhằm khơi dậy lòng thù hận” mà để “rút ra những bài học cho hiện tại và tương lai.” Nhưng ông khuyến cáo tôi phải “xem xét cẩn trọng” vì, theo ông, tôi đã phạm phải nhiều sai lầm về phương pháp học cũng như trong quan niệm về chính nghĩa của chiến tranh “chống Mỹ cứu nước.” Ông Hoà đã nêu lên ba sai lầm lớn trong bài viết của tôi:

1. Về tên gọi của cuộc chiến

Trong đoạn kết, tôi đề nghị “cuộc chiến này (1955-1975) nên được gọi đơn giản là ‘Chiến tranh Việt Nam’ với ý nghĩa khách quan phi chính trị là chiến tranh xảy ra trên đất nước Việt Nam” để cho các bên liên hệ có thể “vượt lên khỏi những ám ảnh tiêu cực của quá khứ và những cuộc tranh luận do tình cảm chủ quan.”

Ðề nghị này bị ông Nguyễn Hoà phê bình nghiêm khắc vì cho rằng tôi đã phạm phải hai sai lầm quan trọng: (a) tôi đã loại bỏ yếu tố chính trị ra khỏi cuộc chiến, tức là đã phủ nhận chính nghĩa của “cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam” và thay thế vào đó bằng cách giải thích bản chất của cuộc chiến này là “nội chiến” đồng thời là “chiến tranh uỷ nhiệm”; và (b) tôi đã “khá ngô nghê” khi xác định rằng “Cuộc nội chiến vì lý tưởng khác biệt, cộng sản và không cộng sản, có mầm mống từ cuối thập kỷ 1920” với sự thành lập của Việt Nam Quốc Dân Ðảng và Ðảng Cộng Sản Việt Nam. Theo ông Nguyễn Hòa, tôi đã “đánh đồng mục tiêu mà Nguyễn Thái Học và các đồng chí của ông theo đuổi với bản chất ‘thừa hành’ của những người cầm quyền do người Pháp, và sau này là người Mỹ, dựng lên ở miền Nam Việt Nam.”

Về điểm (a), trước hết tôi cần phải nói ngay rằng mục đích chính và rõ rệt của tôi khi viết bài này vào dịp Tết là mong ước rằng chính quyền trong nước và cộng đồng người Việt hải ngoại, sau chiến tranh đã ba mươi năm, có thể “nhìn nhận nhau với những trao đổi bình đẳng hai chiều để cùng góp công xây dựng một nước Việt Nam giàu, mạnh và dân chủ, hội nhập thành công vào cộng đồng thế giới và có đủ khả năng đối phó với những đe dọa mới từ phương Bắc.” Ðây cũng chính là điều mà các nhà lãnh đạo Ðảng và Nhà nước mong muốn từ nhiều năm nay nên đã luôn luôn kêu gọi mọi người hãy khép lại quá khứ, hướng về tương lai để cùng nhau xây dựng và bảo vệ đất nước. Muốn đạt được mục đích ấy thì cả hai bên – trước tiên là phe thắng trận – cần phải thực lòng hoà giải với nhau, nhìn nhận nhau và đối xử trong tinh thần bình đẳng. Kết quả này chỉ có thể đạt được nếu cả hai bên đều bình tâm ôn lại những bài học quá khứ, kiểm điểm không chỉ những thành tựu mà cả những sai lầm của mình vì lợi ích chung của dân tộc.

Trong lúc chiến tranh, nếu hai bên đối nghịch có gán cho nhau đủ mọi thứ lỗi lầm và tội ác thì cũng là điều dễ hiểu, nhưng khi cuộc chiến đã chấm dứt thì phe thắng trận không thể cứ tiếp tục thái độ tự tôn và khinh miệt đối với phe thất trận. Tôi không hề phủ nhận khả năng lãnh đạo, tổ chức, và chính nghĩa mà Mặt trận Việt Minh đã giành được trong cuộc kháng chiến chống Pháp 1945-1954, cũng như tôi đã không bỏ qua những nhược điểm về tổ chức và lãnh đạo của các lãnh tụ quốc gia, cùng với sự phản bội của đồng minh, đã khiến cho họ phải thất bại. Nhưng nhất định không thể vì những nhược điểm ấy mà khẳng định rằng những người không theo hay đối lập với Ðảng Cộng sản đều không yêu nước, thậm chí là “Việt gian phản quốc”. Cứ tiếp tục khẳng định như thế mới chính là “tuyên truyền một chiều”, “xuyên tạc lịch sử” và “độc quyền yêu nước”.

Không thể nói rằng những người có lập trường chính trị không cộng sản không phải là những người yêu nước. Những trí thức Tây học như Nguyễn An Ninh, Bùi Quang Chiêu, Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, Nguyễn Tường Tam, dù đường lối chính trị có khác nhau, cũng đều là những người đã chống thực dân Pháp kịch liệt. Tuy nhiên, trong quá khứ đã có nhiều nhà cách mạng và chính trị gia không cộng sản hay thuộc phe đệ tứ quốc tế bị sát hại do chính sách “tiên hạ thủ vi cường” của Việt Minh, nhất là trong chiến dịch truy diệt đảng phái quốc gia tháng Năm–tháng Mười năm 1946. Cứ thực tình mà nói, ngay cả những nhà cách mạng tiền bối như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Nguyễn Thái Học, giả thử còn sống cho đến khi Ðảng Cộng sản chính thức cầm quyền thì số phận của các cụ chắc hẳn đã đổi khác và khó lòng được đặt tên cho các đường phố ở Việt Nam.

Trong cuộc chiến 1955-1975, một lần nữa Ðảng Cộng sản Việt Nam đã chứng tỏ khả năng tổ chức và lãnh đạo giỏi trên cả hai mặt trận tuyên truyền và quân sự. Do chính sách sai lầm của Mỹ, do quan niệm trị nước phong kiến của Ngô Ðình Diệm và sự tồi tệ của những chính quyền quân phiệt kế tiếp, quân và dân miền Bắc đã tin tưởng ở nghĩa vụ “giải phóng đồng bào miền Nam khỏi vòng kìm kẹp của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai” và chấp nhận mọi hi sinh gian khổ để “chống Mỹ cứu nước”. Cuộc “Mỹ hoá chiến tranh” với hàng triệu tấn bom và hỏa lực khủng khiếp trong những cuộc oanh tạc miền Bắc và hành quân lùng và diệt địch tại chiến trường miền Nam đã chỉ làm gia tăng niềm phẫn nộ của dân chúng toàn miền Bắc và làm mất lòng người trong những vùng bị càn quét ở miền Nam.

Tuy nhiên, không thể vì những nhược điểm lãnh đạo của Ngô Ðình Diệm hay tham vọng chính trị của một số tướng lãnh miền Nam mà kết luận rằng toàn thể chế độ Việt Nam Cộng Hòa là “bù nhìn” hoặc “tay sai của đế quốc Mỹ.” Cần phải nhìn nhận rằng Ngô Ðình Diệm, khi mới lên cầm quyền, đã ổn định được tình trạng hỗn loạn năm 1955 và được nhân dân miền Nam tin tưởng vì đức tính thanh liêm và các thành tích yêu nước của ông từ thời Pháp thuộc. Chỉ đến khi củng cố chế độ độc tài gia đình trị theo quan niệm “dân chi phụ mẫu”, ông mới gây nên luồng sóng bất mãn trong dân chúng đưa đến những mưu toan đảo chánh mà kết cuộc là ông bị thảm sát năm 1963. Ngoài ra, Ngô Ðình Diệm luôn luôn giữ tinh thần độc lập, không chịu nhượng bộ trước mọi áp lực của Hoa Kỳ, thậm chí có nhà ngoại giao Mỹ đã nhận xét về nhãn hiệu “bù nhìn” mà phía cộng sản đã gán cho ông: “(Ông Diệm) là một bù nhìn tự giật giây lấy và giật giây luôn cả chúng ta (Mỹ) nữa.” [2] Chính Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã xác nhận rằng nhà lãnh đạo miền Nam khi ấy là “một người yêu nước theo cách của ông ta” và “với cá tính độc lập, Ngô Ðình Diệm rất khó hợp tác với Mỹ vì Mỹ muốn kiểm soát mọi chuyện.” [3]

Sau Ngô Ðình Diệm là một chuỗi chính quyền quân phiệt do một số tướng lãnh chỉ lo tranh giành quyền lãnh đạo chính trị hơn là chỉ huy quân sự khiến cho Hoa Kỳ phải đem quân chiến đấu vào “Mỹ hoá” cuộc chiến, để rồi khi Mỹ rút quân về nước và cắt viện trợ thì sự sụp đổ của miền Nam sẽ phải là hậu quả tất nhiên không thể tránh được. Nhiều binh chủng thiện chiến bị tan rã, các tướng tá ngoài mặt trận bị cắt phương tiện chiến đấu và quyền quyết định nên trước tình thế tuyệt vọng nhiều người đã tự chọn cái chết thay vì đầu hàng hay bị bắt. Ngay cả những tướng lãnh ham làm chính trị cũng không phải là những kẻ chỉ biết phục tùng mệnh lệnh của Mỹ. Tham quyền cố vị như Nguyễn Văn Thiệu cũng đã làm cho Nixon và Kissinger phải điên đầu trước khi không còn sự lựa chọn nào khác hơn là chấp thuận bản Hiệp định Paris để đổi lấy những lời cam kết của Nixon sẽ “tiếp tục hỗ trợ đầy đủ nhất, cả về kinh tế lẫn quân sự phù hợp với những điều khoản về ngưng chiến của bản hiệp định này”, và nhất là “Tôi tuyệt đối đoan chắc với Ngài là nếu Hà Nội không tôn trọng những điều thoả thuận thì tôi sẽ quyết định hành động trả đũa nghiêm khắc và mau chóng.” [4]

Ngoài ra cũng cần phân biệt nhân sự lãnh đạo với cấu trúc chính trị của chế độ. Dù cá nhân lãnh đạo miền Nam có thể bị chỉ trích vì lạm dụng quyền hành, cấu trúc chính trị của Việt Nam Cộng Hòa là một mô hình dân chủ tam quyền phân lập có giá trị mà nếu được thi hành đúng đắn thì chắc chắn sẽ đem lại hạnh phúc và tiến bộ cho dân tộc. Ngay trong thời chiến tranh và lãnh đạo lạm quyền, ngưòi dân miền Nam cũng đã được hưởng các quyền tự do căn bản ở mức độ đáng kể như tự do tín ngưỡng, báo chí, kinh doanh, lập hội, biểu tình. Nước Nga ngày nay, dù lãnh đạo vẫn còn khuynh hướng độc đoán, đã thiết lập được một cấu trúc chính trị tương tự như miền Nam Việt Nam thời trước.

Trong bài viết về tên gọi cuộc chiến, tôi đã xác nhận “lý do chính đáng để gọi giai đoạn Mỹ hoá chiến tranh (1965-1972) là Chiến tranh của Mỹ (American War). Nhưng ngoài thời gian bảy năm có sự can thiệp trực tiếp từ bên ngoài, cuộc chiến hai mươi năm vẫn là một cuộc chiến huynh đệ tương tàn vì những lý tưởng chính trị khác nhau, một bên là những người tin tưởng ở một cuộc sống ấm no, hạnh phúc và bình đẳng do chủ nghĩa cộng sản đem lại cho toàn thể nhân dân, và một bên là nhừng người chọn lựa một xã hội dân chủ tư sản trong đó người dân có nhiều quyền tự do và cơ hội phát triển đời sống cá nhân. Từ những lý tưởng đối lập đó, cả hai bên đã bị những đồng minh khổng lồ sử dụng trong cuộc tranh giành vai trò lãnh đạo quốc tế được gọi tên là Chiến tranh Lạnh. Cuộc nội chiến do đó cũng là chiến tranh ủy nhiệm. Tôi không thấy cần phải nói gì hơn về chiến tranh ủy nhiệm vì trong bài “Gọi tên gì cho cuộc chiến” và nhất là trong cuốn Việt Nam 1945-1995: Chiến tranh, Tị nạn và Bài học Lịch sử, tôi đã chứng minh tính chất này qua những áp lực của các “nước bạn” mà mỗi bên đã phải chịu đựng trong suốt hai cuộc chiến kéo dài ba mươi năm (1945-1975).

Về điểm (b), tôi không thấy tôi sai lầm khi nhắc đến lai lịch cuộc nội chiến, có “mầm mống” từ những cương lĩnh khác nhau giữa Việt Nam Quốc Dân Ðảng của Nguyễn Thái Học và Việt Nam Cộng Sản Ðảng của Hồ Chí Minh, qua những hoạt động cạnh tranh giữa các lãnh tụ quốc gia và cộng sản trong những ngày lưu vong ở Trung Hoa, cho đến những cuộc thanh toán đẫm máu năm 1946. Viết như thế, tôi không thấy tôi đã “xúc phạm vong linh của tiền nhân” vì những nhà cách mạng không cộng sản như Nguyễn Hải Thần, Vũ Hồng Khanh, Nguyễn Tường Tam đều là những người yêu nước chân chính, dù họ đã thất bại. Những lãnh tụ chính trị hay tôn giáo đã bị Việt Minh thủ tiêu như Trương Tử Anh, Lý Ðông A, Hồ Văn Ngà, Bùi Quang Chiêu, Huỳnh Phú Sổ, Trần Quang Vinh đều là những người yêu nước chống Pháp. Tiếp đến là những chính trị gia thời Việt Nam Cộng Hòa như Ngô Ðình Diệm, Trần Văn Hương, Phan Huy Quát, Nguyễn Tiến Hỷ, Trần Văn Tuyên (ba người sau này chết trong trại tù cải tạo,) dù đường lối chính trị có thể khác nhau, nhưng nhất định không thể bảo là những kẻ “thừa hành” hay là “tay sai của đế quốc Mỹ.”

2. Về ý thức hệ quốc gia

Ông Nguyễn Hòa khẳng định rằng, từ đầu thế kỷ 20, người Việt Nam đã yêu nước bằng những con đường khác nhau “nhưng cuối cùng, sự lựa chọn duy nhất đúng chỉ có được với sự ra đời của Ðảng Cộng sản Việt Nam và vai trò của Chủ tịch Hồ Chí Minh.” Ông đã nêu ra giả thuyết là nếu Pháp không quay trở lại xâm lược Việt Nam thì “với chính quyền nhân dân đã được thành lập trên cả nước vào cuối năm 1945… chúng ta hoàn toàn có thể chung tay xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh.”

Từ lý luận đó, ông cho rằng các chính quyền Quốc Gia Việt Nam thời 1945-1954 cũng như chính quyền Việt Nam Cộng Hòa thời 1955-1975 chỉ là những “công cụ thừa hành” của Pháp rồi sau đó là của Mỹ, “không có một định hướng chính trị cụ thể” vì thế “sẽ là hài hước nếu cho rằng chính quyền thừa hành nói trên lại được xây dựng trên cơ sở một ‘ý thức hệ’.”

Trước hết, cần nhận xét về lai lịch và bản chất của những chính quyền quốc gia trong giai đoạn chiến tranh 1945-1954. Khi chiến tranh Việt-Pháp bùng nổ trên toàn quốc vào cuối năm 1946 [5] thì các lực luợng đảng phái quốc gia đã bị tiêu diệt gần hết. Các lãnh tụ và đảng viên còn sống sót của Quốc Dân Ðảng hay Cách Mệnh Ðồng Minh Hội đều đã phải chạy sang Tàu hay lẩn sâu trốn kỹ. Vì được Mỹ giao cho nhiệm vụ ngăn chặn Cộng sản ở Á châu, Pháp phải điều đình với Bảo Ðại để thành lập một chính quyền quốc gia với lời hứa hẹn trao trả độc lập cho một nước Việt Nam không cộng sản. Do Hiệp Ðịnh Hạ Long năm 1948, chính phủ Quốc Gia Việt Nam đầu tiên được ra đời. Một số chính khách vì tin tưởng ở sự ủng hộ của Hoa Kỳ sau lưng Pháp nên nhận lời tham gia chính phủ. Ðây chỉ là sự hợp tác chẳng đặng đừng của những người bị thất thế, lại bị lẫn lộn với những phần tử hoàn toàn thân Pháp nên không lôi cuốn được sự ủng hộ của nhân dân. Thái độ ngoan cố và giả dối của Pháp đã phá hoại cơ hội gây dựng tín nhiệm của tất cả các chính phủ hợp tác với Pháp chống Việt Minh. Mãi đến ngày 4 tháng Sáu, chỉ hơn một tháng trước ngày ký hiệp định Genève, khi biết rằng đằng nào cũng phải ra đi, Pháp mới chịu trao trả độc lập hoàn toàn cho Quốc Gia Việt Nam, qua hiệp ước Daniel–Bửu Lộc.
Các chính phủ quốc gia thời Bảo Ðại, dù có những khuôn mặt thân Pháp như Nguyễn Văn Xuân, Trần Văn Hữu, Nguyễn Văn Tâm, đều có những nỗ lực đòi Pháp trả lại độc lập cho Việt Nam. Tuy nhiên, do những lỗi lầm của Pháp, họ không đạt được kết quả mong muốn và công cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam chống Pháp đến thắng lợi là hoàn toàn do Việt Minh lãnh đạo. Bởi thế, tôi đã nêu ý kiến là cuộc chiến 1945-1954 có thể gọi bằng nhiều tên khác nhau: chiến tranh giành độc lập, chiến tranh chống đế quốc Pháp, hay ngắn gọn hơn, chiến tranh Việt–Pháp. Quốc Gia Việt Nam của Bảo Ðại dù sao cũng chưa phải là một thực thể độc lập và đã bị gắn liền với vai trò của Pháp nên không đáng được nhắc tới.
Tuy nhiên, sau khi đất nước đã bị chia đôi và miền Nam đã hoàn toàn độc lập từ 1955 dưới danh hiệu Việt Nam Cộng Hoà thì đây là một thực thể độc lập về chính trị, quân sự và ngoại giao, hiện diện trong mọi sinh hoạt của cộng đồng quốc tế, đối lập với thực thể Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà ở miền Bắc. Nếu chính sách của Mỹ không phạm phải sai lầm, nếu đường lối cai trị của Ngô Ðình Diệm không trở thành độc đoán thì Việt Nam Cộng Hoà đã có triển vọng trở thành giàu mạnh không thua kém gì Ðại Hàn ngày nay.

Về mặt ý thức hệ, nếu hiểu sát nghĩa là một hệ tư tưởng chính trị toàn diện với cơ sở lý luận đặc thù và những giáo điều soi sáng cho hành động của đảng viên như chủ nghĩa Mác-xít và Cộng sản quốc tế thì đúng là phe quốc gia Việt Nam không có một hệ tư tưởng nào có tầm vóc tương đương. Ngoại trừ các tôn giáo lớn với kinh điển của những vị giáo chủ được mặc khải hay tự giác và một số lý thuyết về dân tộc chủ nghĩa của một số lãnh tụ quốc gia, khi nói về ý thức hệ của những người Việt Nam không cộng sản thì tức là nói về những quan điểm chính trị đa nguyên nhưng đều lập cước trên những nguyên tắc căn bản về dân tộc, dân quyền và dân sinh, chú trọng vào công cuộc phát triển cá nhân để cùng đóng góp vào tiến bộ chung của xã hội. Hiểu như vậy thì tất cả những công dân trong một quốc gia không cộng sản đều có ý thức hoặc được giáo dục về quyền lợi và bổn phận của mình, và những người cầm quyền đều phải có nhiệm vụ tạo điều kiện thuận lợi cho người dân đạt được các nguyện vọng chính đáng của họ. Lãnh đạo mà đi ngược với nguyện vọng của nhân dân thì sớm muộn gì cũng sẽ bị thay thế hay lật đổ. Các biến cố lịch sử mấy chục năm về trước đã cho thấy các chính quyền miền Nam không phải là những “pho tượng đất được thổi linh hồn” như ông Nguyễn Hoà đã mô tả mà chính là những con người thật có ý thức đã phải đối phó rất vất vả—và có khi phải thiệt mạng—khi có những quyết định trái ngược với nguyện vọng của nhân dân.

Trở lại điều khẳng định của ông Nguyễn Hoà là “sự lựa chọn duy nhất đúng” của người dân Việt Nam là “Ðảng Cộng sản Việt Nam và vai trò của Chủ tịch Hồ Chí Minh”, nhận xét của tôi là điều khẳng định này chỉ đúng có một phần rất nhỏ. Trước hết, Ðảng Cộng sản Ðông Dương [6] đã tự giải tán từ tháng Mười Một 1945 cho đến khi tái xuất hiện năm 1951 với tên mới là Ðảng Lao Ðộng Việt Nam, sau khi Mao Trạch Ðông đã thống nhất được Trung Quốc và trở thành “hậu phương lớn” của đồng minh Cộng sản Việt Nam. Nhân dân Việt Nam chưa khi nào có cơ hội lựa chọn giữa Ðảng Cộng sản và các đảng khác để có thể nói rằng đây là sự lựa chọn “duy nhất đúng”. Tổ chức chính thức qui tụ được các đoàn thể nhân dân từ Cách Mạng tháng Tám 1945 và điều động cuộc kháng chiến cho đến 1954 là Mặt trận Việt Minh, và trong suốt thời gian đó Chủ tịch Hồ Chí Minh và Mặt trận Việt Minh luôn luôn nêu cao chính nghĩa “toàn dân kháng chiến chống Pháp giành độc lập”, không bao giờ tuyên bố chiến đấu cho chủ nghĩa cộng sản hay kêu gọi nhân dân theo Ðảng Cộng sản. Nói cách khác, hầu hết những người đi theo Việt Minh đều do lòng yêu nước chứ không phải vì ý thức hệ mác-xít. Chủ tịch Hồ Chí Minh được đa số biết đến và tin tưởng dưới hình ảnh của một nhà cách mạng vì dân tộc chứ không phải với tư cách một lãnh tụ cộng sản.

Ông Nguyễn Hòa có nêu lên một giả định lịch sử là nếu Pháp không trở lại Việt Nam năm 1945 thì sau khi chính quyền nhân dân đã thành lập trên toàn quốc, “chúng ta hoàn toàn có thể chung tay xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh.” Ðiều này không có gì đảm bảo vì lịch sử đương đại đã chứng minh là không có một nước cộng sản nào có thể làm cho dân giàu nước mạnh trừ khi chấp nhận kinh tế thị trường và thực hiện “xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.” Trên kia, tôi cũng đã đưa ra một giả định lịch sử có tính hiện thực hơn là nếu Ngô Ðình Diệm không lãnh đạo sai lầm thì miền Nam Việt Nam đã có thể trở thành một con rồng nhỏ ở Á châu như trường hợp một nửa phía Nam của Hàn quốc.

3. Về chiến tranh ủy nhiệm

Ở đây, ông Nguyễn Hoà trở lại điểm số 1 để phản bác nhận xét của tôi trong cuốn sách Việt Nam 1945-1995 (tập I) mà ông cho là “khôi hài” khi tôi viết: “Cuộc chiến hai mươi năm ở Việt Nam vừa là nội chiến vừa là chiến tranh ủy nhiệm mà rốt cuộc là ‘tất cả mọi phe đều thua’.”

Ông Hòa buộc tội tôi đã coi “nền độc lập và sự kiện sau ba mươi năm giang sơn thống nhất về một mối” là “một sự thất bại” và đặt câu hỏi: “phải chăng giáo sư lại mong muốn Tổ quốc Việt Nam – nơi ông đã sinh ra, lại mãi mãi bị chia cắt, mãi mãi phải quằn quại dưới gót giày ngoại bang?”

Ông Hoà giải thích: “sự ủng hộ rộng rãi về tinh thần, sự giúp đỡ to lớn về vật chất của khối xã hội chủ nghĩa mà chủ yếu là Liên Xô và Trung Quốc… chính là sức mạnh vật chất–tinh thần của phong trào giải phóng dân tộc chân chính dưới sự lãnh đạo của Ðảng Cộng sản Việt Nam.” Sau đó, ông cũng cho thấy “hơn 200 tỷ USD (theo thời giá hiện tại là hơn 600 tỷ USD) mà người Mỹ đã chi phí để nuôi sống bộ máy chính quyền cùng quân đội tay sai trong hơn 20 năm là một con số vượt trội gấp nhiều lần so với viện trợ mà Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chính phủ lâm thời Cộng hòa miền nam Việt Nam, cùng đồng bào yêu nước ở hai miền nam-bắc nhận được trong những năm chiến tranh”. Về điểm này, tôi lại phải nói ngay rằng chi phí của Mỹ cho chiến tranh Việt Nam bao gồm cả những chi phí cho quân đội Mỹ đánh trận theo kiểu nhà giàu, [7] tốn kém phí phạm gấp nhiều lần so với số viện trợ cho quân đội và dân chúng miền nam. Ngoài ra, “sự giúp đỡ to lớn” của Liên Xô và Trung Quốc không phải là không kèm theo những áp lực đòi Ðảng Cộng sản Việt Nam phải thi hành, và khi thấy Việt Nam không còn có lợi ích cho quốc gia họ thì họ không ngần ngại bỏ rơi. Những nỗi đắng cay trong quan hệ với các “nước bạn” đã được tiết lộ bởi Tổng Bí thư Lê Duẩn trong những buổi nói chuyện với các đồng chí Bộ Chính trị, bởi các nhà ngoại giao Hà Nội trong những phiên họp hậu chiến với Mỹ từ 1995 đến 1998, và cuốn Sách trắng nhan đề Sự thật về Quan hệ Việt Nam–Trung Quốc trong 30 năm qua của Bộ Ngoại giao CHXHCN Việt Nam công bố ngày 4 tháng Mười năm 1979.

Khi đọc bài “gọi tên cuộc chiến” của tôi, ông Nguyễn Hòa không thể không để ý đến câu tôi viết: “Lịch sử Việt Nam là một thiên hùng sử của một dân tộc hàng ngàn năm tranh đấu chống ngoại xâm và bảo vệ độc lập cho tổ quốc” và việc tôi nhấn mạnh đến nhu cầu hòa giải và “đoàn kết dân tộc để có đủ khả năng đối phó với những đe dọa mới từ phương bắc”. Như vậy, làm sao mà tôi lại có thể là con người “mong muốn Tổ quốc Việt Nam… mãi mãi bị chia cắt, mãi mãi phải quằn quại dưới gót giày ngoại bang?” Khi đọc cuốn sách đã dẫn trên của tôi, ông Hoà hẳn cũng nhận thấy rằng khi nói về chiến thắng Ðiện Biên Phủ, tôi đã nêu lên ba nguyên nhân chính: (1) viện trợ quân sự của Liên Xô và Trung Quốc, (2) lãnh đạo giỏi của Ðảng Cộng sản Việt Nam với sự cố vấn của Trung Quốc, và (3) tinh thần chiến đấu dũng cảm cùng với sức chịu đựng phi thường của quân đội và dân công Việt Nam.

Ngoài việc phê phán tôi xuyên tạc lý tưởng của những người đã “hy sinh thân mình cho sự thống nhất của Tổ quốc”, ông Hoà còn không chấp nhận ý kiến của tôi là “không phải chỉ có kẻ thắng trận mới là người yêu nước.” Ông dứt khoát phủ nhận lòng yêu nước của những người đối lập với chủ nghĩa cộng sản và buộc tội họ là những kẻ phản quốc. Ông kết án tôi “đã xoá nhoà ranh giới giữa lòng yêu nước chân chính của nhân dân ta với những kẻ đã bán rẻ đất nước, phục vụ quyền lợi và mưu đồ của ngoại bang.” Tôi thấy không cần phải thêm vào những điều tôi đã trả lời rất rõ ràng trong hai vấn đề 1 và 2 trên đây cũng như trong cuốn sách của tôi về lòng yêu nước và lý tưởng tự do dân chủ của những người không cộng sản.

Stanley Karnow, tác giả cuốn VIETNAM: A History được đánh giá cao ở Việt Nam, đã đặt tên cho chương sách đầu tiên của ông là “Cuộc chiến không ai thắng” vì theo ông, đây là “cuộc chiến tranh giữa các nạn nhân”. Nhận xét ấy đã gợi ý cho tôi suy nghĩ thêm và kết luận đây là “cuộc chiến mà mọi phe đều thua.” Như đã chứng minh ở trên, tôi không hề phủ nhận tinh thần chiến đấu dũng cảm của quân đội cộng sản và lòng hi sinh vô bờ của nhân dân miền Bắc, nhưng tôi không thể không nhắc đến cái giá quá đắt về tài sản và nhân mạng và những tác hại lâu dài của một cuộc chiến lẽ ra không cần thiết hoặc có thể đã được chấm dứt sớm hơn nhiều. Chỉ riêng sự kiện Ðảng Cộng sản đã quyết định thực hiện tiến trình “đổi mới” từ ngót hai chục năm nay và đang cố gắng đáp ứng điều kiện của các nước để có thể gia nhập “Tổ chức Thương mại Thế giới” (WTO) cũng đủ cho thấy một thực tế là Nhà nước đang từ bỏ nền kinh tế tập trung để quay trở lại nền kinh tế thị truờng. Tôi chợt nhớ đã được đọc ở đâu đó một định nghĩa thật gọn gàng và chính xác: “Chủ nghĩa cộng sản là một chu trình lâu dài và đẫm máu từ chủ nghĩa tư bản đến… chủ nghĩa tư bản.”

Ðể tổng kết, ông Nguyễn Hòa đã khuyến cáo rằng điều tôi mong muốn về sự nhìn nhận và trao đổi bình đẳng hai chiều chỉ có giá trị nếu kết quả nghiên cứu của tôi “xuất phát từ một phương pháp luận khoa học, tôn trọng sự thật, với những khảo chứng khách quan, lịch sử, cụ thể, toàn diện… Còn nếu không, nghiên cứu đó xét đến cùng, sẽ chỉ là lẩn tránh, xuyên tạc sự thật, biện hộ cho các luận điệu của những kẻ đã và đang rắp tâm chia rẽ khối đoàn kết dân tộc, phá hoại quá trình hòa hợp của người Việt Nam ở trong nước và ngoài nước”.

Thật là một lời cảnh cáo nghiêm khắc và một lời buộc tội nặng nề. Tôi hi vọng khi đọc hết bài trả lời này, ông Nguyễn Hòa sẽ đồng ý rằng tôi không chỉ là một kẻ có thiện chí muốn vận động cho mục tiêu hoà giải và đoàn kết dân tộc để cùng nhau xây dựng một nước Việt Nam giàu, mạnh và dân chủ mà còn là một người nghiên cứu khách quan, khoa học, tôn trọng sự thật. Nếu ông Hoà thật sự tán thành ý kiến của tôi là “đã đến lúc chính quyền trong nước và cộng đồng hải ngoại cần phải nhìn nhận nhau với những trao đổi hai chiều” thì ông không thể cứ tiếp tục bảo vệ thái độ tự tôn của kẻ thắng trận và chủ trương chỉ có người cộng sản là yêu nước. Thật là vừa ngô nghê vừa khôi hài nếu bảo rằng một người đã giảng dạy trên hai mươi năm ở nhiều đại học và đã điều hành nhiều chương trình giúp đỡ nhân đạo ở Việt Nam từ mười mấy năm nay, là một kẻ làm việc thiếu phương pháp nghiên cứu khoa học, lẩn tránh, xuyên tạc sự thật và biện hộ cho những kẻ đang rắp tâm chia rẽ dân tộc.

Ôn lại quá khứ và phục hồi sự thật lịch sử sẽ không khỏi làm phật lòng những người có trách nhiệm hay làm buồn lòng những người liên hệ. Nhưng sự thật lịch sử, kể cả những sai lầm khó tránh trong những tình huống đặc biệt, sẽ không thể che giấu mãi được. Vả lại, phục hồi sự thật lịch sử không phải để khơi lại lòng thù hận mà để cùng nhau rút ra những bài học quá khứ để làm tốt cho tương lai. Nhìn nhận những sai lầm đã qua sẽ chứng tỏ tư cách chân chính của người lãnh đạo. Hầu hết những người có trách nhiệm đều đã khuất, những người lãnh đạo hiện tại càng dễ vượt lên khỏi những ràng buộc của quá khứ để thực hiện đại đoàn kết dân tộc bằng những hành động hoà giải và hợp tác bình đẳng hai chiều để cùng nhau xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh và dân chủ. Ðể có thể “khép lại quá khứ, hướng về tương lai”, hãy trả lại những tên gọi “chiến tranh chống Mỹ–Ngụy” và “chiến tranh chống Cộng sản” cho quá khứ huynh đệ tương tàn. Chỉ như vậy mới có thể xóa bỏ được hận thù, tạo điều kiện cho những đóng góp to lớn và có kế hoạch, về tài chánh cũng như chất xám, của ba triệu người Việt Nam từ những quốc gia phát triển hàng đầu trên thế giới ngày nay.
Rốt cuộc, vấn đề chính vẫn là có hay không những người thật tâm nghĩ đến lợi ích chung của đất nước và dân tộc?

Maryland, 1 tháng Tư 2005

© 2005 talawas


[1]Bài này được viết dưới tựa đề “Tranh luận về tên của cuộc chiến” đăng trong số Xuân Ất Dậu của tạp chí Nhịp Sống do một nhóm bạn trẻ vùng Ðông Bắc Hoa Kỳ chủ trương. BBC xin phép tôi cho đưa bài này lên trang web của đài và được tôi đồng ý, không phải như có người đã viết là tôi “xin” đài BBC để được đăng. Khi đăng bài này, BBC đã bỏ mất phần chú thích quan trọng. Ðộc giả muốn có bài với đầy đủ chú thích xin viết e-mail cho tôi về địa chỉ : lxkhoa@hotmail.com
[2] Stanley Karnow, Vietnam: A History (New York : Viking, 1991), tr. 251.
[3]Lời kể lại của Ramchundur Goburdhun, Chủ tịch Ủy hội Quốc tế Kiểm soát Ðình chiến, được Ellen J. Hammer dẫn trong A Death in November (New York: E.P. Dutton, 1987), tr. 222.
[4]Thư của Richard M. Nixon gửi Nguyễn Văn Thiệu ngày 16-10-1972 và ngày 15-11-1972.
[5]Cuộc chiến tranh chống Pháp trên toàn quốc chính thức ngày 19-12-1946, nhưng cuộc kháng chiến đã diễn ra ở miền Nam từ tháng Chín 1945.
[6]Chỉ tám tháng sau ngày thành lập (tháng Hai 1930) Ðảng Cộng sản Việt Nam đã phải lấy lại tên cũ là Ðảng Cộng sản Ðông Dương, do chỉ thị của Comintern, để phù hợp với mục tiêu quốc tế đấu tranh giai cấp hơn là mục tiêu độc lập dân tộc.
[7]Chẳng hạn “cứ 4 lính Mỹ chiến đấu thì có 5 người phục vụ ở hậu tuyến kể cả những người làm bếp, làm cà-rem, nhân viên làm việc ở các trung tâm giải trí và kho hàng PX.” Tướng Westmoreland xác nhận “hầu hết các binh sĩ của chúng ta đều có những bữa ăn nóng ngay cả ở trong rừng” (Jack Anderson, báo The Washington Post, 21-7-1967).

(Hết)

 

Bài đã đăng trên trang Ba Sàm 2008, nhưng bị tin tặc xâm nhập, xóa mất, nay đăng lại, nên không còn các phản hồi ban đầu của độc giả.

 

Tags: , , ,
Posted in Chiến tranh VN, Đảng/Nhà nước, Quan hệ Việt - Mỹ | Comments Off on Ba mươi năm Gọi tên gì Cho cuộc chiến ?(3)

 

Hit Counter provided by shuttle service to lax